Les fautes de base à prononcer le français

La différence entre le système des mophèmes français et vietnamiens.

Parmi les 36 phonèmes français: 11 phonèmes, 3 consonnes /ʃ, ʒ / R, les voyelles / y, ø, œ, œ, ɔ~, ɑ~, ɛ~ / et semi-voyelle / ɥ /n’existent pas dans la langue vietnamienne.
Dans le vietnamine, il y a des voyelles nasales, (voyelles Composées). En revanche, pas de diptongues dans le français.
Les consonnes françaises peuvent garder le devant, au milieu ou la dernière de la syllabe. Mais parmi les 23 consonnes vietnamiennes seulement six consonne finale, la consonne / p / n’est jamais le devant des syllabes.
Les consonnes vietnamiennes ne se combinent pas pour former un groupe de deux, trois consonnes comme le français.
Dans le français, il y a des consonnes geminées. Ce phénomène n’existe pas pour le vietnamien.
Les différences ci-dessus entre le système phonologique du français et vietnamien sont causé des difficultés de prononciation pour les étudiants vietnamiens dans les études du français.

Điểm khác biệt giữa hệ thống âm vị tiếng Pháp và tiếng Việt

- Trong số 36 âm vị tiếng Pháp có tới 11 âm vị không có trong tiếng Việt : 3 phụ âm /ʃ, ʒ, R/ , các nguyên âm / y, ø, œ, œ, ɔ~, ɑ~, ɛ~ /  và bán nguyên âm /ɥ/.

- Trong tiếng Việt không có nguyên âm giọng mũi (voyelles nasals), nguyên âm ghép (voyelles composées). Ngược lại trong tiếng Pháp không có nguyên âm đôi (les diphtongues).

- Phụ âm trong tiếng Pháp có thể giữ vị trí đầu, giữa hoặc cuối âm tiết. Nhưng trong số 23 phụ âm tiếng Việt chỉ có 6 phụ âm cuối, phụ âm /p/ không bao giờ đứng đầu âm tiết.

- Trong tiếng Việt các phụ âm không kết hợp với nhau tạo thành nhóm gồm 2, 3 phụ âm như trong tiếng Pháp.

- Trong tiếng Pháp có các phụ âm lặp (consonne géminée). Hiện tượng này không có trong tiếng Việt .

Những khác biệt nêu trên giữa hệ thống âm vị tiếng Pháp và tiếng Việt đã gây ra không ít  khó khăn về phát âm cho học sinh Việt nam trong giai đoạn đầu mới học tiếng Pháp.

Les fautes de base à prononciation des Vietnamiens dans les études du français et comment bien corriger ces fautes?

Những lỗi phát âm cơ bản của người Việt khi học tiếng Pháp và phương pháp chữa lỗi phát âm.

Các lỗi thường gặp khi phát âm nguyên âm.

- Người học gặp nhiều khó khăn nhất khi phát âm các âm giọng mũi và thường có xu hướng phát âm [ɑ~] thành “ăng”, [ɛ~]  thành “anh” và [ɔ~] thành “ông”. Khi phát âm các âm tiết “ăng” và “anh” trong tiếng Việt , hai hàm khép lại vì vậy để chữa lỗi phát âm này chúng ta có thể yêu cầu người học giữ nguyên độ mở của hai hàm tương ứng với vị trí khi phát âm âm [ɛ] và âm [a] ; sau đó phát âm “ăng” , “anh” mà không khép hai hàm lại. Còn để chữa lỗi phát âm [ɔ~] , chỉ cần yêu cầu người học giữ tròn môi đồng thời phát âm âm tiết “ông” như trong tiếng Việt .
- Trong tiếng Việt không có nguyên âm [y] tròn môi. Vì vậy người học hay phát âm âm [y] thành âm [u], (ví dụ : [sur] thay vì phát âm đúng là [syr] “sur”); hoặc việt hóa âm [y] thành [wi] « uy » , là âm có trong tiếng Việt (ví dụ : “tu” tiếng Pháp được phát âm thành [twi] “tuy”.

- Trong tiếng Việt không có nguyên âm [y] tròn môi. Vì vậy người học hay phát âm âm [y] thành âm [u], (ví dụ : [sur] thay vì phát âm đúng là [syr] “sur”); hoặc việt hóa âm [y] thành [wi] « uy » , là âm có trong tiếng Việt (ví dụ : “tu” tiếng Pháp được phát âm thành [twi] “tuy”.

- Một lỗi thường gặp phải kể đến nữa là : nhầm lẫn giữa hai âm [ø ] và [ œ]. Hai nguyên âm này không có trong tiếng Việt, và thường được phát âm như âm “ơ” nguyên âm sau và không tròn môi trong tiếng Việt.

Các lỗi thường gặp khi phát âm phụ âm.

- Trong tiếng Việt chỉ có 6 phụ âm cuối /p, t, k, m, n, ŋ/ vì vậy người học có xu hướng không phát âm phụ âm cuối (ví dụ “la France” [lafrɑ~]) hoặc phát âm nhầm phụ âm cuối trong tiếng Pháp theo thói quen phát âm tiếng mẹ đẻ.

Ví dụ : – /d / à /t/ : “mode” [mod] à [mot]

- /f / à /p/ : “canif” [kanif]à[kanip]

- /s / à /t/ : “six” [sis] à [sit]

- Vì phụ âm [ʃ] và [ ʒ ] không có trong hệ thống âm vị tiếng Việt nên người học đồng nhất hai âm này với [s] và [z], hoặc với [ş] và [ʐ,]. Lỗi thường gặp nhất là phát âm [ ʒ ] thành [z], ví dụ “je” [zə]. Các lỗi phát âm này được coi là lỗi nặng vì nó làm biến đổi nghĩa của từ. Ví dụ “chaud” / “sot”, les gens / les ans.

- Trong tiếng Pháp, [p] và [b] có thể giữ vị trí đầu, giữa hoặc cuối âm tiết. Nhưng trong tiếng Việt phụ âm [p] luôn luôn ở vị trí cuối âm tiết. Vì vậy người học hay nhầm lẫn âm [p] và [b].

Ví dụ : – /p / à /b/ : “peuple” [pø pl] được phát âm thành [bø blə].

- /b / à /p/ : “double” [dubl] à [dup]

- Các phụ âm [g], [R] được phát âm việt hóa thành ‘gh’, ‘r’ tiếng Việt.

- Trong tiếng Pháp phụ âm [r] hoặc [l] có thể kết hợp với rất nhiều phụ âm khác để tạo nên các nhóm phụ âm. Hiện tượng này không có trong tiếng Việt. Vì vậy người học có xu hướng thêm các nguyên âm vào các nhóm phụ âm.

* Thêm [i] trước phụ âm [s] : ví dụ “sport” [sipɔr]

* Thêm [ə] vào giữa các nhóm “bl”, “gr”, “cr”, “pl”, “pr”… : ví dụ “prix” [pəri]; “craie” [kərɛ] … Để chữa lỗi phát âm này chúng ta có thể cho học sinh phát âm từ nguyên âm mở, đến mở vừa, khép vừa, đến khép, và cuối cùng loại bỏ hẳn. Ví dụ : [pəri] à [peri]à [piri]à [p’ri]à [pri];

Các lỗi thường gặp khi phát âm các bán nguyên âm.

- Người học trong giai đoạn đầu thường phát âm các bán nguyên âm / j, ɥ, w/ như các nguyên âm hoặc như các nguyên âm đôi có trong tiếng Việt.

Ví dụ : “métier” , “billet” được phát âm thành [metie], [bie] thay vì phát âm đúng là [metje], [bijɛ].


Filed in: Phonétique Tags: , ,

Leave a Reply

You must be Logged in to post comment.

© 2014 Học Tiếng Pháp | Ngữ Pháp Tiếng Pháp. All rights reserved. XHTML / CSS Valid.
Proudly designed by TIENGPHAPONLINE.